Giá thức ăn chăn nuôi chuẩn bị tăng lần thứ 6 trong nửa năm nay, trong khi giá lợn hơi xuống dưới 60.000đ/kg- về ngưỡng thấp nhất trong 2 năm. Giá gia cầm cũng mất vài chục phần trăm so với cùng kỳ, thường xuyên ở ngưỡng dưới giá thành khiến cho người làm giống, người chăn nuôi chìm trong thua lỗ. Chi phí đầu vào tăng cao trong khi giá bán sản phẩm sụt giảm. Một lần nữa, người chăn nuôi đứng trước lựa chọn: “TREO CHUỒNG” hay “TIẾP TỤC THUA LỖ”?

Chuyện gì đang xảy ra với giá thức ăn chăn nuôi?

Ngay trong tháng 7 này, các công ty thức ăn chăn nuôi trong nước đồng loạt tăng giá thêm 5%. Như vậy, giá nhiều loại thức ăn chăn nuôi đã tăng 40% tính từ đầu năm. 

Theo Hiệp hội chăn nuôi gia cầm, đến nay đã có khoảng 50% trang trại lớn phải treo chuồng và khoảng 2/3 hộ chăn nuôi ngừng tái đàn. Trong 6 tháng qua, ngành chăn nuôi gia cầm đã tăng trưởng âm. Đối với các hộ chăn nuôi lợn cũng không khả quan hơn. Giá thành 1 kg lợn hơi hiện nay khoảng 58.000đ, trong khi giá bán trên thị trường cũng chỉ khoảng từ 58.000đ-60.000đ/kg, nguy cơ treo chuồng là tất yếu.

Trên thực tế, giá thức ăn chăn nuôi chiếm khoảng 70% trong giá sản phẩm; nếu tình trạng giá thức ăn tăng cao kéo dài, các trang trại đứng trước nguy cơ phá sản và dẫn đến thiếu hụt nguồn cung, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên Đán.

Thức ăn chăn nuôi tăng giá gây thiệt hại nhiều nhất đến người nông dân

Vậy vì sao giá lại tăng?

Bạn cần biết rằng thức ăn chăn nuôi bao gồm nhiều thành phần: ngô, khô đậu tương, bã rượu khô, lúa mì, cám, tấm gạo, sắn, bột cá, bột xương, khoáng chất…, trong đó có nhiều nguyên liệu không phải thế mạnh của Việt Nam; sản xuất không đủ hoặc do giá thành quá cao so với sản phẩm nhập khẩu cùng loại. 

Với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay, chúng ta có thể cung cấp 4 triệu tấn cám, hơn 3 triệu tấn sắn để các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, đó vẫn là chưa đủ khi nhu cầu của thị trường lên tới 27 triệu tấn các loại, trong đó chủ yếu là ngô, đậu tương, lúa mì, khô dầu (vốn không phải là các loại cây trồng thế mạnh của Việt Nam mà của các quốc gia Nam Mỹ, Nga, Ukraina, Australia). Với tỷ lệ nhập khẩu 80% nguyên liệu sản xuất, phụ thuộc hoàn toàn vào giá thế giới thì với ảnh hưởng của dịch Covid làm đứt gãy chuỗi cung ứng và giá nhiều loại nông sản tăng đột biến, đương nhiên số chi nhập khẩu các loại nguyên liệu liên tục tăng cao.

Theo số liệu của Bộ Công thương, năm 2020, kim ngạch nhập khẩu thức ăn chăn nuôi lên tới 3,84 tỉ USD, trong khi xuất khẩu lĩnh vực này đem về hơn 800 triệu USD. Thức ăn chăn nuôi lọt top ngành nhập siêu lớn, thâm hụt thương mại lên tới hơn 3 tỉ USD. Đó là chưa tính chi phí nhập khẩu các loại nguyên liệu chính sản xuất thức ăn chăn nuôi (gồm ngô 2,5 tỉ USD, đậu tương 840 triệu USD, dầu mỡ động thực vật 900 triệu USD…).

Ngịch lý của chính sách

Mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hàng triệu tấn sắn, cám gạo; nhưng thay vì sử dụng chúng làm nguyên liệu sản xuất thì lại chi hàng tỉ USD để nhập ngô, đậu tương thay thế. Hiện ngành nông nghiệp chưa có nghiên cứu chuyên sâu để đưa các sản phẩm này vào sản xuất thức ăn chăn nuôi, hướng tới tự chủ nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước, tự túc được 40-50% từ các nguồn thức ăn có lợi thế này.

Chi phí nhập khẩu tăng khiến Bộ Tài chính đã phải đề xuất giảm thuế nhập khẩu ngô và lúa mì- 2 loại nguyên liệu chủ yếu để sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước.

Cách đây 3 năm, ngành nông nghiệp đề xuất đưa thức ăn chăn nuôi trở thành mặt hàng bình ổn giá, nhưng đến nay vẫn nằm trên giấy, chưa thành hiện thực. Một loạt các giải pháp ngắn hạn, dài hạn đều được đưa ra mỗi khi giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, nhưng đang thiếu các biện pháp căn cốt cho thị trường. Cùng với đó là nhóm lợi ích và lobby chính sách của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi nên chuyện giá cả bấp bênh hàng chục năm qua vẫn chưa có nhiều thay đổi. 

Nghịch lý của thị trường trong nước

Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện đứng thứ 10 thế giới và số 1 khu vực Đông Nam Á về sản lượng sản xuất công nghiệp, xếp trên cả Thái Lan (18,6 triệu tấn) và Indonesia (18,3 triệu tấn), đạt giá trị trên 10 tỉ USD. Song ngoài bức tranh chung là sự thiếu tự chủ về nguồn nguyên liệu trong nước, thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang là khu vực nắm giữ “phần hồn” của “mảnh đất màu mỡ” này.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt Nam có khoảng 265 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó 85 nhà máy thuộc doanh nghiệp FDI, chiếm 32%, nắm giữ tới 65% thị phần; 180 nhà máy thuộc doanh nghiệp trong nước chiếm 68%, chỉ nắm giữ 35% thị phần.

Do năng lực cạnh tranh kém hơn so với doanh nghiệp FDI, nên các doanh nghiệp trong nước đang có nguy cơ sụt giảm thị phần trước sự mở rộng về quy mô, số lượng doanh nghiệp cũng như sản lượng của doanh nghiệp FDI. Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI mạnh về vốn, nên thường dự trữ sản lượng lớn nguyên liệu chế biến, do đó kiểm soát giá nguyên liệu tốt hơn. Thị trường thức ăn chăn nuôi trong nước có dấu hiệu bị chi phối bởi một số công ty lớn.

Theo đó, một số “đại gia” trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi như CP, Cargill, Japfa, Guyomarc’h-VCN… Các doanh nghiệp trong nước có quy mô lớn như Dabaco, Masan, GreenFeed, Vina, Lái Thiêu, Hòa Phát…

Điều nghịch lý nữa, trong khi người chăn nuôi điêu đứng vì chi phí đầu vào tăng cao, đầu ra giá bán thấp thì các “ông lớn” ngành chăn nuôi vẫn thu lãi khủng, nhất là những đại gia sở hữu nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi lớn. 

Dù chiếm số lượng nhỏ nhưng các tay chơi nước ngoài lại chiếm thị phần rất lớn tại Việt Nam

Theo báo cáo thường niên của Tập đoàn CP Việt Nam, năm 2020, lợi nhuận của tập đoàn này đã tăng 125% so với năm 2019. Riêng mảng nông nghiệp của tập đoàn đã đạt doanh thu gần 3,5 tỉ USD, tăng trưởng 25% so với năm 2019. Tương tự, một “ông lớn” ngành chăn nuôi khác ở miền Bắc là Tập đoàn Dabaco cũng đạt được mức lợi nhuận khủng. Năm 2020, Dabaco đạt doanh thu 10.022 tỉ đồng, tăng trưởng 39%. Trong đó, lợi nhuận ròng 1.400 tỉ đồng, gấp 4,6 lần năm 2019. Một “ông lớn” ngành thức ăn chăn nuôi khác đến từ Hàn Quốc là Công ty CJ, cũng đạt lợi nhuận hơn 5.100 tỉ đồng trong năm ngoái. 

Với tiềm năng của thị trường Việt Nam, hiện các doanh nghiệp lớn trong nước đang tích cực đầu tư lớn vào ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi với mong muốn “lội ngược dòng”, giành lại thị phần từ tay các doanh nghiệp ngoại. Các tập đoàn này đang liên kết tạo thành chuỗi phát triển sang lĩnh vực chăn nuôi, tiêu thụ, song nói chung các doanh nghiệp FDI vẫn đang chiếm lĩnh và quyết định được thị trường..

Paul Nguyễn
About Author

Paul Nguyễn

I am an economics writer.

Leave a Reply

Your email address will not be published.

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest