Ngành dệt may của Việt Nam đã tồn tại hàng thế kỷ, và truyền thống lâu đời của ngành dệt may của chúng ta càng được khẳng định khi Việt Nam vượt qua Bangladesh, vươn lên vị trí thứ 2 trong năm 2020 về xuất khẩu hàng may mặc chỉ sau Trung Quốc.

Lịch sử phát triển

Ngành dệt may Việt Nam có thể được xem khởi đầu từ khi thành lập Nhà máy Dệt Nam Định năm 1897. Sau đó đến những năm 1958, nhà máy  sợi Vinatexco được thành lập tại Sài Gòn (tiến thân của Công Ty Cổ Phần May Quốc Tế Thắng Lợi) là một trong những công ty dệt may lớn nhất miền nam Việt Nam.

Sau những năm 1975, các nhà máy dệt may được tiếp quản bởi chính phủ và tập trung xuất khẩu sang các nước Xã hội chủ nghĩa thuộc khối kinh tế Đông Âu. Năm 1986, Việt Nam ký thỏa thuận gia công lớn với LIên Xô để gia công xuất khẩu, còn Liên Xô sẽ cung cấp tất cả nguyên vật liệu và mẫu thiết kế.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, giai đoạn 1990 – 1992 là giai đoạn khó khăn của ngành dệt may. Sau giai đoạn tái thiết, cùng với định hướng phát triển ngành dệt may của chính phủ với Quyết định 161/1998/QĐ-TTG về việc quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp dệt – may đến năm 2010 và việc mở rộng quan hệ giao thương với các quốc gia khác, ngành này đã phát triển rực rỡ và đóng góp đến 12.5% kim ngạch xuất khẩu năm 2020 (35.3 tỷ USD), chiếm 20% lao động khu vực công nghiệp và 5% lao động cả nước.

4 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Mỹ (51%), EU (16%), Nhật Bản (12%), và Hàn Quốc (9%) chiếm đến gần 90% kim ngạch xuất khẩu. 

Thế mạnh chiến lược

Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Nguồn: FTPS

Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu bao gồm 5 khâu cơ bản:

(1) Nguyên liệu đầu vào (bao gồm sợi tự nhiên và sợi nhân tạo)

(2) nguyên liệu may mặc (bao gồm vải từ sợi tự nhiên và vải từ sợi tổng hợp)

(3) hệ thống sản xuất bao gồm các công ty sản xuất hàng may mặc

(4) hệ thống xuất khẩu bao gồm các trung gian thương mại

và (5) các thương hiệu, nhà bán lẻ với hệ thống bán hàng và marketing.

Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia gia công hàng thành phẩm cho các nhãn hàng và nhà bán lẻ trên toàn cầu, dệt sợi chỉ chiếm 10% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam.

Những lợi thế của Việt Nam đối với mặc hàng may mặc có thể kể đến bao gồm:

  • Tham gia vào nhiều hiệp định thương mại song phương cũng như đa phương như WTO, AFTA, AKFTA, ACFTA, EVFTA, UKVFTA, v.v., và được hưởng lợi từ các ưu đãi thuế quan

Giá nhân công thấp: Việt Nam là một trong những nước có giá nhân công thấp nhất trong nhóm các quốc gia xuất khẩu dệt may lớn.

  • Chính trị ổn định: Việc Việt Nam xuất khẩu ổn định là mộ trong những yếu tố giúp thu hút FDI trong nhiều năm qua, bao gồm ngành dệt may. 
  • Đóng góp từ doanh nghiệp FDI: Các công ty dệt may FDI chỉ chiếm 25% tổng số doanh nghiệp, nhưng chiếm đến 60% kim ngạch xuất khẩu do lợi thế về công nghệ, sản xuất, cũng như đơn hàng ổn định từ công ty mẹ đưa về. 
  • Năng suất lao động: năng suất nhân công dệt may của Việt Nam cao hơn Bangladesh đến 25%, quốc gia ở vị trí thứ 3, cho thời gian sản xuất 1 đơn hàng. 

Điểm yếu

Bên cạnh những thế mạnh về nhân công giá rẻ, chất lượng tay nghề, ngành dệt may Việt Nam vẫn có những điểm yếu cần khắc phục. 

  • Chưa có thương hiệu lớn: Đối với một sản phẩm dệt may, lợi nhuận lớn nhất trên mỗi sản phẩm nằm ở lợi nhuận cho thương hiệu, chiếm 12% trên mỗi sản phẩm, trong khi lợi nhuận cho nhà sản xuất chỉ chiếm 2.5%. Phần lớn lợi nhuận trong chuỗi giá trị đều thuộc các thương hiệu nước ngoài. Việc cải thiện thương hiệu và thiết kế sẽ là yếu tố quan trọng đưa Việt Nam thành cường quốc may mặc. 
  • Biên lợi nhuận thấp: biên lợi nhuận ròng của gia công dệt may ở Việt Nam chỉ từ 3-9% trên tổng doanh thu, điều này cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tái đầu tư, mở rộng kinh doanh. 
  • Máy móc còn lạc hậu: do ngành có nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ, nên mức độ đầu tư máy móc thiết bị không đều dẫn đến chất lượng sản phẩm cũng như năng suất không đồng nhất giữa các doanh nghiệp. 
  • Không tự chủ được nguyên liệu: Việt Nam hiện vẫn nhập 50% số sợi, và 70% số vải thành phẩm để gia công hàng dệt may (nhu cầu hằng năm khoảng 9 tỷ m vải). Nguyên nhân do các doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu ưu tiên xuất khẩu để được giá cao, và hàng vải thành phẩm của Việt Nam có chất lượng, mẫu mã không phong phú. Các loại vải chất lượng cao, hoa văn phức tạp, Việt Nam hiện đều phải nhập

Việc phụ thuộc nhập khẩu làm giảm tính cạnh tranh về giá cũng như thời gian hoàn thành đơn hàng do phải phụ thuộc vào thời gian nguyên liệu nhập khẩu.

Nguy và cơ

Trong năm 2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh lên chuỗi cung ứng, kim ngạch xuất khẩu giảm 10% so với năm 2019. Tuy nhiên, do kiểm soát dịch tốt, chúng ta đã vẫn vươn lên so với Bangladesh. Cụ thể thì trong năm ngoái, Việt Nam đã vượt Bangladesh để trở thành nhà xuất khẩu dệt may lớn thứ 2 thế giới. 

Đối diện nhiều khó khăn, nhưng dệt may Việt Nam vẫn có nhiều có cơ hội phát triển

Trong năm 2021, tình hình 6 tháng đầu năm rất khả quan với kim ngạch xuất khẩu đạt 19 tỷ USD. Tuy nhiên, kim ngạch tháng 7, tháng 8 có thể giảm sút nghiêm trọng do ảnh hưởng dịch bệnh, nhưng đây cũng chỉ là những ảnh hưởng mang tính ngắn hạn. Nhìn chung, ngành dệt may có triển vọng tốt trong những năm sắp tới, nhờ vào những nguyên nhân sau: 

  • Do nhu cầu tăng cao trong năm 2021 sau khi phục hồi kinh tế ở các nước phát triển, đơn hàng của các công ty dệt may Việt Nam đều kín đến hết tháng 8 năm 2021. Xu hướng này sẽ tiếp diễn trong thời gian tới khi tốc độ phục hồi kinh tế ở nhiều nước sẽ tăng nhanh hơn với việc triển khai tiêm vaccine và các gói kích thích kinh tế. 
  • Myanmar, quốc gia đang lên về ngành dệt may, bị ảnh hưởng bởi bất ổn chính trị sau vụ đảo chính của quân đội vào tháng 2 vừa rồi. 
  • Sự kiện bông Tân Cương thúc đẩy việc chuyển dịch đơn hàng sang các quốc gia có chi phí thấp hơn. Các nhãn hàng đáng lưu ý liên quan đến việc này bao gồm Nike, Adidas, Zara, Lacoste, Burberry, v.v.
  • Các hiệp định thương mại như EVFTA, UKVFTA, v.v có hiệu lực từ cuối 2020 và trong năm 2021. 

Có thể nói, các lợi thế về ổn định chính trị, nhân công, kiểm soát dịch bệnh đã giúp Việt Nam vươn lên trong các quốc gia xuất khẩu dệt may. Tuy nhiên, chúng ta cần phải xây dựng thương hiệu, nâng cao thiết kế để nắm giữ nhiều giá trị hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thành Vương Tiến
About Author

Thành Vương Tiến

Leave a Reply

Your email address will not be published.

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest