Bên cạnh gây ra cuộc khủng hoảng y tế có thể nói vẫn rất nghiêm trọng, dịch COVID-19 còn gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động kinh tế, khi hàng loạt doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động, hoặc không có nguyên liệu để sản xuất. Không chỉ vậy, nền kinh tế Việt Nam còn phải đối mặt với nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, và các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) suy giảm.

FDI giảm sâu

Bộ Kế hoạch đầu tư cho biết tổng số vốn FDI đăng ký trong 7 tháng đạt 16,7 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây cũng là mức giảm mạnh nhất kể từ khi dịch COVID-19 bùng phát trở lại hồi tháng 5. Trước đó trong 6 tháng đầu năm nay, tổng vốn FDI đăng ký cũng đã giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2020.

Tình hình khó có thể được cải thiện trong tháng 8, do Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội – 2 trong số những trung tâm hút FDI, vẫn đang phải giãn cách xã hội nghiêm ngặt. Kể cả số ca nhiễm có giảm trong tháng 8, các doanh nghiệp cũng chưa thể hoàn toàn khôi phục sản xuất được ngay, mà phải chờ ít nhất 1, 2 tháng. Có nghĩa là nếu lạc quan, sớm nhất là tháng 9 các doanh nghiệp mới có thể sản xuất kinh doanh trở lại.

FDI 7 tháng năm nay suy giảm rõ rệt

Kết quả khảo sát chỉ số môi trường kinh doanh được Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố vào tháng 7/2021 cho thấy niềm tin của doanh nghiệp đã bị suy giảm mạnh do ảnh hưởng của làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4. Theo đó chỉ số niềm tin doanh nghiệp đã xuống 45,8 điểm phần trăm (so với mức 73,9 điểm phần trăm của quý 1 năm nay). Đây cũng là mức giảm mạnh nhất kể từ khi dịch bùng phát vào năm 2020.

Trong khi đó, khảo sát của đài NHK cho thấy hơn 60% doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động tại Việt Nam đang có ý định đưa nhân viên về nước để “tránh dịch”. Tầm quan trọng của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam chúng ta đều hiểu. Riêng trong tháng 6 năm nay, Nhật Bản cũng đứng thứ 2 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư ở Việt Nam với 86 dự án đầu tư mới. Tổng vốn đầu tư cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần là 2,44 tỉ USD. Các dự án FDI của Nhật Bản đang từng bước xây dựng các chuỗi cung ứng chiến lược tại Việt Nam.

Về tổng thể, suy giảm vốn FDI có thể trong ngắn hạn, vì Việt Nam vẫng đang chịu sự bùng phát của dịch bệnh. Một khi dịch bệnh được kiểm soát, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ quay trở lại đầu tư. Nhưng vấn đề là bao giờ dịch được kiểm soát? Đòi hỏi số ca nhiễm bằng 0 là điều hết sức khó khăn, nếu không muốn nói là không tưởng. Khả dĩ nhất là FDI tăng trở lại song song với việc số ca nhiễm giảm xuống ở một mức độ không gây quá tải cho hệ thống y tế.

Năm ngoái, Việt Nam đã lọt vào top 20 nước thu hút FDI lớn nhất thế giới. Đây rõ ràng là thành quả mà chúng ta có được nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh trong cả năm 2020. Tuy nhiên, bức tranh năm 2021 đã khác, nếu không muốn nói là xấu đi nhiều. Để giữ vững thành quả này, không chỉ cần kiểm soát dịch bệnh tốt, mà còn phải có nhiều yếu tố khác mà chúng ta sẽ đề cập ở phần cuối bài.

Đứt gãy chuỗi cung ứng

Ngoài nỗi lo FDI giảm, một vấn đề khác còn ảnh hưởng nghiêm trọng hơn tới nền kinh tế, đó là nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, thậm chí Việt Nam còn đối mặt với khả năng bị bật khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.

Mấy ngày gần đây, cảng Cát Lái rơi vào tình trạng quá tải, do hàng hóa, nguyên vật liệu về nhiều mà doanh nghiệp không hoạt động nên không thể lấy hàng. Thực ra cảng này bình thường cũng đã hoạt động gần hết công suất, nhưng do dịch bệnh nên mọi thứ còn trầm trọng hơn nữa.

Hàng hóa dồn ứ tại cảng Cát Lái đang gây nguy cơ đứt chuỗi cung ứng

Theo Bộ Công Thương, nguyên nhân ùn tắc hàng tại cảng là do nhiều nhà máy, doanh nghiệp xuất nhập khẩu dừng hoạt động, cắt giảm sản lượng nên không thể tiếp nhận khiến, container bị lưu lại cảng nhiều gây ùn tắc. Ngoài ra, nhân lực để duy trì hoạt động liên tục cho cảng cũng giảm xuống khoảng 50% khi chỉ còn 250 người/ngày, nhất là công nhân xếp dỡ tàu ngày càng thiếu trầm trọng.

Thiếu hàng hóa, nguyên liệu, doanh nghiệp không thể sản xuất, từ đó không kịp trả hàng cho đối tác nước ngoài. Một, hai lần thì các công ty nước ngoài còn thông cảm, nhưng nếu kéo dài liên tục, chắc chắn họ sẽ phải tìm đối tác ở nước khác. Đó chính là nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu mà Việt Nam có thể phải đối mặt nếu tình hình dịch bệnh không được cải thiện.

Kể cả các doanh nghiệp thực hiện phương châm “3 tại chỗ” cũng đang gặp khó khăn. Như tại Đồng Nai, có trên 1.000 doanh nghiệp thực hiện phương châm này, nhưng chỉ duy trì được khoảng 1/3 số lượng lao động. Với các doanh nghiệp giày da, may mặc, với quy mô lên tới hàng chục nghìn người, thì rất khó đáp ứng “3 tại chỗ”.

Các doanh nghiệp kết nối với nhau như những bánh răng. Bất kỳ bánh răng nào hỏng đều gây tác động dây chuyền tới nền kinh tế

Mọi đồ vật, đồ ăn mà chúng ta tiêu thụ hàng ngày đều là sản phẩm của các chuỗi cung ứng cực kỳ phức tạp, móc nối với nhau. Bất kỳ mắt xích nào trong chuỗi cung ứng này bị hỏng đều có tác động dây chuyền tới những mắt xích còn lại. Trong khi đó, quy định về hàng thiết yếu, hàng không thiết yếu vẫn đang gây tranh cãi. Điều này dẫn đến việc có những hàng hóa thiết yếu được phép sản xuất, nhưng không có nguyên liệu, thì hàng hóa đấy cũng không thể sản xuất.

Chẳng hạn, mì gói là hàng thiết yếu, nhưng bao bì có được gọi là hàng thiết yếu không? Nếu không có bao bì thì lấy cái gì để gói mì? Chưa kể, bao bì được sản xuất từ các hạt nhựa, được nhập khẩu từ Thái Lan, Arab. Nếu những nguyên liệu này bị ứ đọng, lấy gì để sản xuất bao bì? Đại để chuỗi cung ứng móc nối với nhau như vậy.

Không phải ngẫu nhiên mà hiệp hội DN Mỹ tại VN (Amcham) mong muốn đề xuất về bỏ danh mục hàng thiết yếu của Bộ Công thương sớm được thông qua để tránh dồn ứ hàng xuất khẩu, mà trước nhất là với hàng đi thị trường Trung Quốc.

Giải pháp để duy trì sức hút

Những khó khăn trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng lớn tới tình hình kinh tế trong dài hạn. Kiểm soát dịch chỉ là một phần trong nỗ lực thu hút vốn FDI cũng như giữ vững hoặc tham gia sâu hơn các chuỗi cung ứng mà Việt Nam đang thực hiện.

Nhiều chuyên gia y tế trên thế giới đã khẳng định dịch COVID-19 sẽ khó có thể biến mất mà thay vào đó sẽ trở thành dịch theo mùa. Do đó, cần phải tính đến chuyện chung sống lâu dài với dịch bệnh, không chỉ đối với xã hội, mà các doanh nghiệp cũng cần phải có kế hoạch “sống chung với lũ”.

Đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cho hệ thống y tế đóng vai trò then chốt để đón đại bàng về làm tổ

Việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng đóng vai trò then chốt. Nhưng không chỉ có đầu tư cơ sở hạ tầng cho các hoạt động kinh doanh như logistics, mà đầu tư cho hệ thống y tế cũng đóng một vai trò rất lớn.

Dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm hệ thống y tế của Việt Nam, vốn thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải bệnh nhân. Hơn 200.000 bệnh nhân COVID-19 được ghi nhận trong thời gian ngắn, từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 8, thực sự đã khiến các bệnh viện quá tải, đặc biệt là các bệnh viện tuyến đầu. Năm 2020, tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân của Việt Nam chỉ vọn vẹn ở mức 8, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (19 bác sĩ/10.000 dân), hay Nhật Bản (24 bác sĩ/10.000 dân). Số lượng bác sĩ đặc biệt thiếu ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, các bệnh viện tuyến dưới.

Do đó, đầu tư cho các bệnh viện là điều rất quan trọng, để nếu có xảy ra một đợt bùng phát dịch bệnh như dịch COVID-19, các bệnh viện cũng không rơi vào tình trạng quá tải.

Nói về y tế, giải pháp cần thiết trước mắt là phải đẩy nhanh tốc độ tiêm chủng vaccine. Kinh nghiệm ở các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cho thấy tiêm sớm cho công nhân ngày nào thì hoạt động kinh doanh sớm được nối lại ngày ấy. Với diễn biến dịch phức tạp như hiện nay, cần đẩy mạnh hoạt động tiêm chủng ở những tỉnh có nhiều khu công nghiệp, có nhiều công nhân. Có như vậy mới sớm kiểm soát được dịch bệnh và “đại bàng” FDI mới có thể sớm quay về “làm tổ” ở Việt Nam.

Thành Vương Tiến
About Author

Thành Vương Tiến

Leave a Reply

Your email address will not be published.

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest