Tác giả: TS Lý Ngọc Điệp – Hội khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu

Dịch Covid đã và đang để lại hậu quả kinh tế nặng nề ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Làm cách nào để phục hồi kinh tế sớm và hiệu quả là câu hỏi được nhiều người quan tâm. Hãy cùng Kinh tế học giản đơn cùng nghiên cứu các nước đã chi các gói hỗ trợ kinh tế thế nào và Việt Nam có thể làm gì để phục hồi kinh tế sau đại dịch qua bài của Tiến Sĩ Lý Ngọc Điệp – Hội khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu

Tỷ lệ chi trên GDP để hỗ trợ nền kinh tế của các nước

Tính đến cuối tháng 4/2021, các nước trong nhóm G20 đã chi 6,3 nghìn tỷ USD, khoảng 9,3% GDP 2019 của nhóm G20 cho các gói hỗ trợ tài chính kinh tế trong đại dịch. Trong đó:

• 3,2 nghìn tỷ USD (4,8%) cho các gói hỗ trợ chi trả trực tiếp của chính phủ;

• 2,3 nghìn tỷ USD (3,45%) cho các gói cho vay hỗ trợ doanh nghiệp;

• 0,8 nghìn tỷ USD (1.2%) cho các chính sách giảm thuế, miễn thuế.

Trong khi đó, Việt Nam đã chi 1.4% GDP cho các gói hỗ trợ trực tiếp và chi phí công chống dịch, và 0.5% cho các khoản vay hỗ trợ là thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển có tổng thu nhập thấp như bảng thống kê dưới đây. 

Bên cạnh đó, khi Việt Nam vẫn đang tiếp tục chịu ảnh hưởng kinh tế khi dịch đang kéo dài, việc mở rộng chính sách tài khóa, tăng các khoản chi hỗ trợ trực tiếp cũng như vay ưu đãi là cần thiết để phục hồi kinh tế sau đại dịch.

Tỷ lệ % trên GDP của các gói hỗ trợ trực tiếp và khoản vay hỗ trợ (nguồn: IMF, 2021)

Các chính sách đã thực hiện ở Việt Nam và Đông Nam Á

Chính phủ đã đưa ra rất nhiều biện pháp hỗ trợ về kinh tế và tài chính cho các doanh nghiệp và người dân, cụ thể như Nghị quyết 68 ngày 1/7 của Thủ tướng chính phủ và nghị quyết 09 ban hành ngày 25/6 của Hội đồng nhân dân TPHCM.

Tuy nhiên theo phản ánh thì vẫn có những bất cập trong việc thực thi các gói hỗ trợ trên một cách hiệu quả. Cần phải có thông tin nhất quán, rõ ràng, hướng dẫn đơn giản cụ thể cho các cơ quan tổ chức thi hành, cho các doanh nghiệp và cho người dân, cần có sự kết hợp chặt chẽ đồng bộ của Sở LĐTBXH, Chi cục thuế, BHXH, các ủy ban nhân dân các cấp. Quy trình nộp hồ sơ còn khá phức tạp và hạn chế như phải nộp đơn trực tiếp cho BHXH qua đường bưu điện trong thời gian giãn cách là rất không khả thi. Vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể cho người lao động tự do.

Vậy các nước trong khu vực Đông Nam Á đã chi tiêu thế nào để hỗ trợ người dân? Hãy cùng tham khảo bảng sau:

Các khoản mục mà các gói hỗ trợ ở các nước Đông Nam Á chi cho (nguồn: Liên Hợp Quốc – UN, 2021)

Hầu hết các gói hỗ trợ tài chính kinh tế của các nước ở khu vực Đông Nam Á đều dành cho: y tế, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các hộ gia đình – giảm, miễn, hoãn trả nợ thuế (cho doanh nghiệp và cá nhân), và quy dự phòng để tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

Ngoài chính sách tài khóa, các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, còn áp dụng một số chính sách tiền tệ như cắt giảm lãi suất, tạm thời nới lỏng các chính sách hỗ trợ cho vay để tăng tính thanh khoản. Nhiều nước còn chủ động hỗ trợ ổn định thị trường tài chính qua các chính sách tái cơ cấu, giãn hạn trả nợ cho doanh nghiệp và người dân; giảm biên độ dao động của thị trường chứng khoán bằng cách tạm thời cấm bán khống và giảm/miễn phí giao dịch chứng khoán theo báo cáo của UN.

Việt Nam cần làm gì thêm?

Việc cần làm bây giờ là giải quyết hiệu quả giải ngân của gói hỗ trợ 26.000 tỷ theo NQ68 để hỗ trợ trong thời gian chống dịch. Sau đó, chính phủ có thể lên chính sách hỗ trợ đặc biệt để phục hồi kinh tế sau khi đã kiểm soát được dịch.

Trong tình hình kéo dài giãn cách và phong tỏa thì cần xem xét các gói hỗ trợ thêm cho những đối tượng cá nhân dễ bị tổn thương, các hộ nghèo. Chúng ta có thể xem xét chi thêm 2-3% GDP (tương đương 6 – 10 tỷ USD), cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển nhằm đảm bảo an sinh xã hội và nguồn lực để phục hồi kinh tế hậu Covid từ các nguồn vốn hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF).

Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ nhằm tăng nguồn tiềngiảm lãi suất, cũng như đơn giản hóa các quy trình, thủ tục cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dễ dàng tiếp cận được nguồn tài chính cho vay để tập trung vào các dự án, chiến lược mô hình kinh doanh mới, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, xây dựng hệ thống hậu cần và vận hành cho bình thường mới, phát triển nhanh những sản phẩm dịch vụ mới phù hợp với tình hình kinh tế xã hội trong và hậu Covid là cực kỳ cần thiết.

Thật vậy, hiện tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận nguồn vốn do lo ngại rủi ro nợ xấu từ ngân hàng.

Tỷ lệ % doanh nghiệp rủi ro không có đủ doanh thu để trả lãi (nguồn: S&P và IMF)

Về vấn đề xử lý nợ xấu hậu COVID-19, chính phủ cần có những giải pháp sau:

  • Làm việc chặt chẽ với các ngân hàng thương mại để xác định những rủi ro và cách xử lý nợ xấu hậu Covid cho đồng bộ.
  • Có thể sử dụng các chính sách bảo hiểm đi kèm hỗ trợ cho doanh nghiệp
  • Có kế hoạch truyền thông rõ ràng cụ thể đến các bên có liên quan, như Ngân hàng Nhà nước, các ngân hang chính sách và thương mại, các công ty bảo hiểm, sở chi cục thuế, và doanh nghiệp v.v.
  • Linh động xử lý và điều chỉnh phương thức xử lý nợ xấu theo biến đổi của thị trường và mức độ ảnh hưởng của Covid đặc biệt đến các ngành bị ảnh hưởng nặng nhất bao gồm: năng lượng, vật liệu, hàng tiêu dùng không thiết yếu, bất động sản như báo cáo của IMF dưới đây
Ngọc Điệp Tiến sĩ - Lý
About Author

Tiến sĩ - Lý Ngọc Điệp

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest