Những ngày qua (24-26/8), sự kiện Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris đến thăm Việt Nam được phủ khắp các trang báo, trong đó có nhấn mạnh cam kết Mỹ sẽ viện trợ thêm 1 triệu liều vaccine Pfizer cho Việt Nam, thể hiện thiện chí của Mỹ trong việc nâng cấp mối quan hệ với Việt Nam lên đối tác chiến lược. Điểm đáng chú ý là Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á thứ 2 được bà Harris – Phó Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm ngay sau Singapore. Vậy, tại sao là Việt Nam?

Bị gắn mác thao thúng tiền tệ

Tháng 12/2020, Mỹ cáo buộc Việt Nam là quốc gia “thao túng tiền tệ” dựa trên 3 tiêu chí: (1) Thặng dư thương mại song phương với Mỹ lớn; (2) Thặng dư cán cân vãng lai (trên 2% GDP quốc gia); (3) Mua ròng ngoại tệ trong 12 tháng (trên 2% GDP quốc gia)

Mác “thao túng tiền tệ” được xác định chủ yếu tập trung ở việc một quốc gia liên tục phá giá đồng nội tệ (giá trị danh nghĩa hoặc thực tế) nhằm làm hàng hoá xuất khẩu rẻ đi và tăng khả năng thâm nhập thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường của Mỹ. Đây là chiến lược hợp lý đối với các nền kinh tế thực hiện chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, ví dụ như Trung Quốc giai đoạn 1990-2010 hay Hồng Kông, Singapore, Ireland.

Tuy nhiên, việc Mỹ cáo buộc Việt Nam “thao túng tiền tệ” là chưa thực sự khách quan và chưa xét tới mối quan hệ thương mại có tính chất bổ sung lẫn nhau giữa hai nước, được chứng minh qua các điểm:

Điều đầu tiên, thặng dư thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong 4 quý tính đến tháng 6/2020 là 58 tỷ USD, đứng thứ 4 trong số các nước thặng dư thương mại lớn nhất so với Mỹ. Tuy nhiên, thặng dư thương mại chủ yếu đến từ nhóm doanh nghiệp FDI. Phần giá trị thặng dư mà Việt Nam nhận được nhờ gia công các mặt hàng xuất khẩu chính vào Hoa Kỳ như: May mặc, giày dép, điện thoại, máy tính và linh kiện điện tử tương đối thấp. Do đó, Việt Nam không được hưởng lợi nhiều từ phần thặng dư thương mại lớn với Mỹ mà thực tế công ty mẹ và những doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu đầu vào chiếm phần lớn thặng dư, bao gồm cả các doanh nghiệp Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,…

Vietnam, US Reach Accord on Alleged Currency Manipulation – The Diplomat
Việt Nam bị Mỹ gắn mác thao túng tiền tệ

Thứ hai, thặng dư cán cân vãng lai trong kỳ đạt 4,6% GDP. Tuy nhiên, thặng dư cán cân vãng lai có sự đóng góp rất lớn từ lượng kiều hối gửi về Việt Nam (với mục đích trợ giúp gia đình, người thân là chính). Theo World Bank, lượng kiều hối gửi về Việt Nam năm 2019 đạt khoảng 17 tỷ USD, chiếm tới 6,4% GDP.

Thứ ba, việc Ngân hàng Việt Nam mua ròng ngoại tệ là nhu cầu thực tế trong bối cảnh lượng kiều hối, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đều đặn đổ vào Việt Nam với số lượng khá lớn (gần 40 tỷ USD mỗi năm). Pháp luật Việt Nam hiện tại không cho phép sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán trong nước. Do vậy, nhà đầu tư khi chuyển tiền vào Việt Nam kinh doanh thì phải đổi sang tiền đồng để giải ngân. Tiền thu từ hoạt động xuất khẩu cũng như kiều hối khi chuyển về Việt Nam cũng phải đổi sang tiền đồng để sử dụng. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Việt Nam với tư cách là người mua cuối cùng trên thị trường, cần thiết phải thực hiện mua vào ngoại tệ để đáp ứng quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân cũng như ổn định thị trường tài chính – tiền tệ – ngoại hối.

Với nền tảng của những luận điểm trên, ngày 19/07/2021, Việt Nam và Mỹ đã đạt được thỏa thuận liên quan đến hồ sơ “thao túng tiền tệ”. Nhờ đó, Việt Nam chính thức không còn nằm trong danh sách các quốc gia bị Mỹ cáo buộc.

Chiến lược Trung Quốc +1

Trong bối cảnh căng thẳng leo thang mọi mặt từ kinh tế đến chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc, để đề phòng rủi ro, các nhà đầu tư Mỹ và thế giới đã đưa ra chiến lược “Trung Quốc +1”, đặt cơ sở sản xuất tại các nước khác. Và Việt Nam, là một trong top đầu những quốc gia thu hút sự chú ý trong chiến lược này (ngoài Ấn Độ, Thái Lan & Indonesia). Điểm mạnh nhất của Việt Nam là chính quyền ổn định, không phải lo lắng về con đường phát triển kinh tế. Mức GDP được dự đoán tăng trưởng dương trái hẳn với bức tranh toàn cầu với nỗi ám ảnh Covid. Đồng thời tỷ lệ lạm phát thấp, khiến Việt Nam trở thành miếng bánh màu mỡ cho dòng vốn FDI từ Mỹ nói riêng và các quốc gia khác nói chung.

Chuyến thăm của Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris tới Việt Nam phản ánh vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam trong mắt Mỹ

Sở dĩ, Trung Quốc đạt được mức phát triển kinh tế cao là vì ngành sản xuất chế tạo trên thế giới chọn nước này để đặt cơ sở sản xuất (do ở đây dân số đông đúc và giá nhân công rẻ). Với lý do đó, Trung Quốc được xem là “công xưởng của thế giới” vì có thể sản xuất hàng loạt, các sản phẩm có giá thành thấp đến mức phá giá giúp tăng trưởng nhảy vọt. Thế nhưng, vì vốn đầu tư quốc nội tăng nên việc cắt giảm chi phí không mang lại hiệu quả. Nhà đầu tư bàn tán về nhiều mối nguy như vấn đề đánh cắp tài sản trí tuệ, phá giá đồng nhân dân tệ,.. Điều này khiến giới đầu tư hoang mang khi không biết khi nào chính sách kinh tế của Trung Quốc mới được đổi chiều.

Hơn nữa trong hơn 5 năm qua, Mỹ luôn lần lượt phát động chiến tranh thương mại, chiến tranh công nghệ, chiến tranh dư luận đối với Trung Quốc. Chuỗi hành động quyết liệt của chính quyền Tổng thống Trump (trước thời tổng thống Joe Biden) đã gây sức ép đối với Trung Quốc, đưa mối quan hệ giữa hai nước chuyển sang giai đoạn cạnh tranh chiến lược toàn diện, đối đầu khốc liệt. Theo các chuyên gia, bản chất cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung Quốc là cuộc đối đầu không khoan nhượng giữa mô hình kinh tế thị trường tự do của Mỹ với mô hình kinh tế do nhà nước kiểm soát của Trung Quốc. Sự khác biệt sâu sắc giữa hai mô hình kinh tế Mỹ và Trung Quốc đã dẫn đến những xung đột khó kiểm soát, đặc biệt trong một số lĩnh vực chiến lược cũng như khó tìm ra giải pháp. Mâu thuẫn này càng được thấy rõ khi trước động thái tặng Vaccine của “sen đầm quốc tế” Hoa Kỳ cho Việt Nam, Trung Quốc vội đánh phủ đầu đối thủ khi chỉ trong vài tiếng trước khi phó tổng thống Mỹ đến Hà Nội, đại sứ Trung Quốc Hùng Ba đã đến thăm Việt Nam cùng với thông điệp cam kết viện trợ gấp đôi số liều vaccine Mỹ đã cung cấp, tức 2 triệu liều.

Bức tranh kinh tế Việt Nam – Mỹ sau 25 năm

Thời điểm 1994, khi Mỹ vừa bỏ cấm vận Việt Nam, thương mại 2 chiều mới khoảng 500 triệu USD thì đến nay quy mô đã trên 75 tỷ USD, gấp hơn 150 lần. Kinh tế Việt Nam và Mỹ ngày càng gia tăng tính bổ trợ và tương hỗ lẫn nhau.Trên thực tế từ sau khi bình thường hóa quan hệ, kinh tế, thương mại & đầu tư giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu phát triển khá nhanh. Đặc biệt, sau nhiều vòng đàm phán, ngày 13/7/2000, hai nước đã chính thức ký Hiệp định thương mại song phương (BTA). BTA được ký là sự kiện quan trọng , bởi đây là khung pháp lý cần thiết và rõ ràng, tạo cơ sở nền tảng để xúc tiến hợp tác kinh tế & thương mại, đảm bảo hài hoà lợi ích của hai bên.

Những sự kiện quan trọng tiếp sau là việc Việt Nam gia nhập WTO (tháng 11/2006) và việc Mỹ công bố cấp cho Việt Nam Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR – 11/2006). Trên nền tảng đó, Việt Nam luôn xuất siêu sang Mỹ với kim ngạch ngày càng tăng. Vì vậy, không bất ngờ khi tốc độ và quy mô tăng trưởng thương mại Việt – Mỹ những năm qua vượt quá dự đoán của nhiều chuyên gia kinh tế.

Trong khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, kinh tế Mỹ bị thách thức bởi thâm hụt lớn tài khoản vãng lai, tỷ lệ tiết kiệm giảm và mất cân bằng nghiêm trọng trong lĩnh vực tài chính. Mặc dù vậy, vẫn có nhiều tập đoàn, công ty lớn của Mỹ tiếp tục tăng cường đầu tư vào Việt Nam. Thực tế cho thấy, trước đây, Việt Nam đã thu hút hàng loạt tên tuổi lớn của Mỹ như Intel, Microsoft, Jabil, Microchip, IBM, P&G, Coca-Cola, PepsiCo. Tiếp sau đó, các tập đoàn Boeing, Chevron, AIG, Exxon Mobil, General Electric… cũng tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam.

Gần đây, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, song nhiều thông tin cho thấy Việt Nam tiếp tục thu hút các tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ như Google và cả Apple. Hiện tại, tập đoàn Ford đã quyết định gia tăng năng lực sản xuất bằng việc đầu tư nhà máy lắp ráp tại Hải Dương; General Electric cũng đã tăng vốn đầu tư vào nhà máy tuabin gió ở Hải Phòng; tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ là AES được cấp phép triển khai dự án khí LNG ở Sơn Mỹ; các công ty công nghệ tại Thung lũng Silicon đã có kế hoạch chuyển hướng đầu tư sản xuất thiết bị điện tử về Việt Nam…

Dù rằng trong giai đoạn dịch Covid như hiện gây lo lắng không ít cho các nhà đầu tư quốc tế, trao đổi về vấn đề này, ông Hoàng Anh Tú – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho rằng, sẽ không có chuyện dòng vốn FDI sẽ rút hay rời khỏi Việt Nam. Có chăng là dòng vốn FDI dịch chuyển vào Việt Nam có thể chậm lại do một số địa phương đang siết chặt việc thực hiện Chỉ thị 16 để phòng, chống dịch Covid-19.

Thái Phan
About Author

Thái Phan

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest