Chính phủ Mỹ sắp tăng thuế để có thể chi trả cho gói kích thích kinh tế lên đến 3.500 tỷ USD. Chúng ta hãy cùng xem chi tiết của kế hoạch tăng thuế này cũng như các học thuyết về tương quan giữa thuế và sức khỏe của nền kinh tế nhé. 

Kế hoạch tăng thuế của Đảng Dân Chủ. 

Hiện nợ công của Mỹ đã đạt mức trần 29 nghìn tỷ USD. Do đó việc chi thêm 3.500 tỷ USD để chi kích thích kinh tế không chỉ đơn giản là nâng trần nợ công, vì điều này sẽ làm cho đánh giá tín dụng Mỹ suy giảm, đẩy lãi suất lên cao. Chính phủ Mỹ phải tìm cách bổ sung nguồn thu để có thể đảm bảo khả năng chi trả khoản vay thông qua phát hành trái phiếu này. 

Chính phủ Mỹ đang tìm cách tăng thuế để có tiền chi trả cho gói cứu trợ mới

Kế hoạch tăng thuế của Đảng Dân Chủ có một số điểm chính sau:

  • Thuế thu nhập doanh nghiệp: tăng từ 21% lên 26.5%
  • Thuế thu nhập cá nhân: mức tối đa tăng từ 37% lên 39.6% + 3% thuế cho cá nhân có thu nhập trên 5 triệu USD. 
  • Thuế do tài sản tăng giá (capital gain tax): tăng từ 20% lên 25%

Giữa Đảng Dân Chủ và Cộng Hòa luôn có quan điểm trái ngược, một bên là tăng thuế để chi tiêu công, phát triển cộng đồng, giúp đỡ người nghèo, một bên thì giảm thuế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển kinh doanh, và từ đó tạo thêm cơ hội làm việc cho người nghèo. Liệu có quan điểm nào thật sự đúng hay sai, hãy nhìn lại các thuyết kinh tế học về vấn đề này nhé. 

Học thuyết kinh tế học Keynesian 

Học thuyết Keynes là học thuyết kinh tế thị trường, tập trung vào việc biến đổi nhu cầu tiêu thụ trong ngắn hạn. Keynes cổ vũ nhà nước tăng chi và giảm thuế trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế. 

Sau đó, Richard Kahn, học trò của Keynes tiếp tục phát triển học thuyết hiệu ứng số nhân rằng khi chính phủ chi tiêu, giảm thuế, sẽ giúp doanh nghiệp và người dân tăng thu nhập và tạo ra càng nhiều nhu cầu tiêu dùng. Việc tăng thu nhập của doanh nghiệp, người dân sẽ giúp tăng thuế thu vào để trả nợ công. 

John Maynard Keynes – Cha đẻ học thuyết kinh tế Keynesian

Học thuyết kinh tế học Austrian.

Theo học thuyết Austrian, thì thuế lũy tiến là phù hợp với tự do kinh tế, vì người giàu được hưởng nhiều lợi ích hơn từ việc chính phủ chi tiêu công, họ phải trả nhiều thuế hơn. 

Trừ khi chính phủ đang thặng dư ngân sách, thì việc giảm thuế là không nên vì sẽ dẫn đến tăng nợ công. 

Xác định mức thuế tối ưu – đường cong Laffer

Để xác định mức thuế tối ưu, Tiến sĩ Arthur Laffer đã đưa ra một đường cong về thuế với mức thuế 0% – 100%. 

Khi chính phủ thu thuế 0%, thì sẽ không thu được đồng nào. Và khi chính phủ thu thuế 100%, thì cũng sẽ không thu được đồng nào do không ai muốn làm việc, kinh doanh nữa. Vậy mức thuế tối ưu phải là một mức ở giữa để số tiền thuế thu được đạt ở mức cao nhất. 

Theo đường cong Laffer, đảng Cộng Hòa cho rằng giảm thuế sẽ giúp tạo thêm công ăn việc làm, và sản xuất, giúp chính phủ thu được nhiều thuế hơn. Nhưng Đảng Dân Chủ lại cho rằng trách nhiệm của nhà nước là lấy của người giàu để chia lại cho người nghèo thông qua thuế và đường cong Laffer không tính đến chuyện trốn thuế của người giàu, doanh nghiệp – khi Amazon đóng thuế thu nhập doanh nghiệp với mức 1,2% vào năm 2019. 

Đường cong Laffer không thể được tính toán chính xác cho nên việc xác định mức thuế nào là tối ưu không khả thi. 

Thực tiễn 

Trên thế giới, trong những quốc gia có chất lượng sống cao, có cả quốc gia có thuế thấp hoặc không có thuế (UAE, Monaco, Singapore, Ireland, v.v.) và những quốc gia có mức thuế cao – điển hình là các nước Bắc Âu. Ngoài ra độ giàu có của các quốc gia còn phụ thuộc vào những lợi thế nhất định của từng quốc gia, môi trường kinh doanh, tài nguyên thiên nhiên v.v. Cho nên khó có thể khẳng định học thuyết nào, và tăng hay giảm thuế là tối ưu.

Câu chuyện của chính phủ Mỹ ở thời điểm hiện tại thì liên quan đến nợ công nhiều hơn. Do mức nợ khổng lồ, nếu chỉ chi mà không có thêm nguồn thu, thì gói kích thích kinh tế này quả thực không khả thi cho chính phủ Mỹ, nên việc tăng thuế nhẹ có vẻ là một quyết định hợp lý ở thời điểm này. 

Thái Phan
About Author

Thái Phan

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest