Tác giả: Trần Minh

Trong nửa thế kỷ qua, mô hình cung ứng Vừa Đúng Lúc (Just In Time) đã trở thành mô hình “vàng” trong giới doanh nghiệp toàn cầu. Trong mọi ngành từ thời trang đến chế biến thực phẩm đến dược phẩm, các công ty đã vận dụng quy tắc chỉ tiếp nhận nguyên vật liệu vào đúng thời điểm cần dùng để giữ dây chuyền sản xuất linh hoạt và gọn gàng, đồng thời cắt giảm chi phí. Đại dịch Covid-19 đã làm lộ tẩy những điểm yếu của mô hình này. Khi Vừa Đúng Lúc không thể đúng lúc được nữa, chuỗi cung ứng toàn cầu lập tức xảy ra vấn đề.

Cách mạng ngành sản xuất

Lần đầu được áp dụng bởi công ty sản xuất ô tô Nhật Bản Toyota sau Chiến tranh thế giới thứ hai, bản thân Vừa Đúng Lúc vốn là một giải pháp ứng phó khủng hoảng, giúp phục hồi nhanh sau chiến tranh. Do nước Nhật đông dân cư và ít diện tích đất, Toyota muốn giảm lưu trữ kho bãi nên đã dàn xếp với các nhà cung cấp để họ chuyển linh kiện và phụ tùng đến công ty chỉ đúng thời điểm cần dùng thay vì sớm hơn.

Toyota takes 'just-in-time' production to another level - Nikkei Asia
Just in time đã giúp nhiều doanh nghiệp phát triển

Đến những năm 1980, các công ty toàn cầu đua nhau mô phỏng mô hình sản xuất của Toyota. Vừa Đúng Lúc trở thành một cuộc cách mạng, được ca ngợi như một giải pháp thần kỳ giúp tăng lợi nhuận và hiệu suất.

Bằng cách giữ cho hàng tồn kho thật thấp, các công ty có nhiều không gian hơn để trưng bày hàng hóa và cắt giảm đáng kể chi phí. Vừa Đúng Lúc cũng giúp làm giàu cho các cổ đông, bởi từ chi phí tiết kiệm được, các công ty có thêm khoản dôi dư để chia cổ tức và mua lại cổ phiếu.

Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, trong vòng 10 năm trước khi xảy ra đại dịch, các công ty Mỹ đã chi hơn 6.000 tỷ USD để mua lại cổ phiếu của công ty mình. Các công ty ở Nhật Bản, Anh, Pháp, Canada và Trung Quốc cũng tăng lượng mua lại của họ lên gấp 4 lần.

Mua lại cổ phiếu làm giảm số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường, từ đó nâng giá cổ phiếu của công ty. Nhưng phần lợi ích này phải đánh đổi bằng những giá trị đầu tư khác – như mở rộng sản suất hoặc dự trữ linh kiện.

Đại dịch COVID-19 ập đến đã khiến tác hại hiện ra rõ rệt. Các nền kinh tế lớn nhanh chóng phát hiện ra rằng họ không có đủ năng lực sản xuất nhiều mặt hàng thiết yếu, trong đó có máy thở. ManMohan S. Sodhi, một chuyên gia về chuỗi cung ứng tại Đại học London Business School nói: “Khi bạn cần máy thở, giá cổ phiếu bạn nắm đang cao hay thấp không còn ý nghĩa nữa”.

Lợi ích và rủi ro

Công bằng mà nói, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu là do tổng hoà nhiều nguyên nhân. Nhưng nhiều doanh nghiệp “dính đòn” nặng vì họ đã phụ thuộc bất chấp vào mô hình của Vừa Đúng Lúc, vào các nhà cung cấp có thể cách xa cả đại dương.

“Chúng tôi đã đi quá xa,” Knut Alicke, một chuyên gia tại công ty tư vấn McKinsey, cho biết. “Nhiều công ty đã hành động như thể mô hình sản xuất và vận chuyển kiểu này không có rủi ro, họ không hề có kế hoạch dự phòng”.

Một số chuyên gia cho rằng cuộc khủng hoảng đang diễn ra sẽ giúp thay đổi tâm lý chủ quan này. Các doanh nghiệp có thể tăng lượng tồn kho và tìm kiếm các nhà cung cấp dự phòng. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng sau khi mối nguy qua đi, nhu cầu cắt giảm chi phí sẽ lại làm lu mờ các tính toán khác.

Trên thực tế, không cần có một đại dịch để nhìn ra những lỗ hổng của Vừa Đúng Lúc.

China ecommerce boom fires up logistics sector | Financial Times
Just in time cũng không phải là không có nhược điểm

Năm 1999, một trận động đất làm rung chuyển Đài Loan, làm gián đoạn ngành sản xuất chip máy tính của vùng lãnh thổ này. Trận động đất và sóng thần tại Nhật Bản năm 2011 đã khiến các nhà máy đóng cửa và cản trở việc vận chuyển, gây ra tình trạng thiếu phụ tùng ô tô và chip máy tính. Lũ lụt ở Thái Lan cùng năm đã làm giảm nguồn cung ổ cứng máy tính.

Mỗi lần như vậy đều nổi lên một cuộc tranh luận về việc tăng dự trữ kho bãi và đa dạng hóa các nhà cung cấp. Và mỗi lần như vậy, các công ty đa quốc gia vẫn tiếp tục bỏ qua những cảnh báo.

Willy C. Shih, chuyên gia thương mại quốc tế tại Harvard Business School, cho biết: “Câu hỏi thực sự ở đây là: Liệu chúng ta có ngừng theo đuổi chi phí thấp trong kinh doanh và sản xuất hay không? Tôi nghi ngờ điều này. Người tiêu dùng sẽ không muốn tiêu tốn cho phòng ngừa khủng hoảng khi không có khủng hoảng”.

Hoàng Phú Nguyễn
About Author

Nguyễn Hoàng Phú

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest