Tác giả: Cao Nam Hưng

Chief Marketing Officer hay còn được biết đến là Giám Đốc Marketing được cho là một trong những vị trí C level – những vị trí có chức danh cao trong một công ty, có mức độ đào thải nhanh nhất. Theo thống kê cho thấy, chỉ có khoảng 40% người nắm giữ chức vụ này đến năm thứ 3 trong một công ty. Vậy nguyên nhân do đâu, giám đốc Marketing có thực sự là một chức vụ đáng mong ước?

CMO có quyền hạn gì?

Để nói tới công việc chính xác của một C-level thì có thể sẽ rất khó nhưng có ba vai trò chính cho CMOs và đây cũng chính là những phòng ban nhỏ hơn của một bộ phận Marketing trong một công ty: một số CMOs đảm nhiệm về việc hoạch định chiến lược, một số CMOs chịu trách nhiệm thương mại/bán hàng và một số khác có vai trò quản lý P&L.

Dù rằng những vai trò của CMO là vậy, nhưng tầm ảnh hưởng và trách nhiệm của họ luôn tác động đến toàn bộ công ty và giám đốc điều hành (CEO) sẽ là người đánh giá họ nhưng những kỳ vọng của các CEO thường là quá mơ hồ khó hiện thực hóa. 

Theo thống kê của Kimberley A. Whitler, một người đã từng nắm giữ chức vụ CMO tại một số công ty ở Mỹ và đang dành nhiều năm nghiên cứu sâu hơn về vị trí này, có đến hơn 80% các CEO tại nhiều tập đoàn lớn nhỏ không hài lòng về CMO của mình. Lý giải cho điều này, bà Kim đưa ra nhiều các luận điểm về sự kết hợp không ăn khớp giữa vị trí CMO và CEO.

Vị trí C level mờ nhạt nhất?

Sự phát triển của công nghệ thông tin và big data đã làm cho dữ liệu số của khách hàng trở nên quan trọng và nhờ đó vị trí CIO – Giám đốc công nghệ thông tin sở hữu nhiều ‘insight’ và có lợi thế hơn trong việc đưa ra các chiến lược quảng cáo trên các kênh kỹ thuật số. Điều này dẫn tới việc CMO thường mất đi những quyền lực nhất định trong công ty.

Ngoài ra, việc tuyển dụng vị trí CMO cũng được bà Kim đánh giá là không thực tiễn tại các công ty và tập đoàn. Các bạn cũng có thể dễ bắt gặp thấy những bài báo đăng tin tức về một giám đốc nổi tiếng vừa trở thành vị trí CMO của tập đoàn này, công ty kia. Theo bà, những việc đánh bóng tên tuổi như trên thực sự không cần thiết, thay vào đó, việc tuyển dụng nên đề cập đến những kỳ vọng thực sự của công ty vào vị trí này.

Mỗi công ty đòi hỏi những kỹ năng làm việc khác nhau, những kỳ vọng của công ty hay CEO về vị trí CMO cần được hiểu chính xác hơn nhằm tối đa hóa hiệu quả của những bản hợp đồng cấp cao này. Các giám đốc marketing cùng những vị trí C-level khác luôn đảm nhận vai trò quan trọng nhất trong công ty, vậy nên việc ‘phù hợp’ vẫn cần phải ưu tiên hàng đầu trong việc tuyển dụng.

Sự ‘tiến hóa’ của công việc Giám Đốc Marketing trong lịch sử

Xuất hiện vào những năm 1950 khi cụm từ ‘Marketing’ chưa trở nên quá trong giới kinh doanh tại Mỹ. Vào thời gian này, TV và ấn phẩm truyền thông như báo, poster là những hình như marketing duy nhất.

Một số poster của các công ty Mỹ vào những năm 1950-1970

Trong suốt 30 năm tiếp theo, marketing vẫn chỉ tập trung vào TV và báo nhưng ngày càng có nhiều công ty trong nhiều ngành nghề tham gia và hoạt động tiếp thị. Sau những năm 1980, những phương tiện truyền thông phát triển, nhu cầu của người dùng cũng phân hóa nhiều dẫn đến sự phức tạp trong hoạt động marketing, tạo áp lực hơn cho các phòng marketing của công ty.

Cho đến những năm 1990, khi xuất hiện thêm những ngành hàng mới và marketing B2B xuất hiện, Vai trò của nhà lãnh đạo tiếp thị trở nên mờ nhạt, khi các công ty phải vật lộn để tìm sự cân bằng giữa việc hoạch định chiến lược (định vị thương hiệu, phân khúc và tăng trưởng kinh doanh) và đưa ra chiến thuật (hỗ trợ bán hàng, tạo tài liệu quảng cáo và tổ chức triển lãm thương mại). Chức danh CMO lần đầu tiên được sử dụng nhằm quản lý các bộ phận nhỏ trong phòng ban marketing.

Sự lan rộng và sử dụng bừa bãi chức vụ giám đốc sáng tạo bắt đầu từ những năm 2000, khi mà cuộc cách mạng công nghệ số diễn ra, làm thay đổi cách thức quan hệ giữa công ty và khách hàng. Theo thống kê cho thấy, trong thời gian này, việc gọi tên một CEO chịu trách nhiệm về thương hiệu và truyền thông là CMO là rất phổ biến, chứng tỏ việc hiểu sai và lạm dụng từ các công ty. Cũng trong thời gian này, các công ty bắt đầu để ý đến việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng.

Vào những năm 2010, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và big data làm cho sự kỳ vọng về vị trí CMO trong việc tận dụng và kết hợp những công nghệ mới càng lớn hơn. Điều này vô tình dẫn đến việc không hài lòng của các CEO khi những yêu cầu mà họ đặt ra cho các CMO của mình là quá lớn và mơ hồ.

(Nguồn: Harvard Business Review)

Paul Nguyễn
About Author

Paul Nguyễn

I am an economics writer.

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest