Vai trò của chính phủ luôn là một trong những vấn đề trung tâm của kinh tế học, bất kể là kinh tế học cổ điển hay kinh tế học hiện đại. Điều tiết kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của đất nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mỗi chính phủ. Vậy để làm được điều này, chính phủ làm như thế nào?

Chúng ta đều biết rằng trong dài hạn, mọi thứ sẽ tốt hơn, nền kinh tế sẽ phát triển. Nhưng dài hạn là bao lâu? Một năm, hai năm hay cả đời người thì không ai nói trước được. Nhà kinh tế học nổi tiếng John Maynard Keynes từng có câu nói đùa nổi tiếng: “Về dài hạn, tất cả chúng ta sẽ chết”, phản ánh rằng không thể chỉ cứ mong chờ vào dài hạn. Trong ngắn hạn, có nhiều vấn đề kinh tế gây bất ổn xã hội, thị trường rối loạn, thất nghiệp tràn lan. Do đó, nhiệm vụ của chính phủ chính là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và phát triển trong dài hạn. Để làm được điều này, chính phủ có hai công cụ, được ví như hai cánh tay đắc lực, đó là chính sách tài khóa chính sách tiền tệ. Chúng ta sẽ tìm hiểu lần lượt về hai chính sách này.

Chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa (fiscal policy) là chính sách mà chính phủ thông qua hệ thống thuế và đầu tư công để tác động đến nền kinh tế. Chính phủ thực hiện chính sách này theo hai hướng, tương ứng với hai trạng thái của nền kinh tế.

Khi nền kinh tế trì trệ hoặc suy thoái, chính phủ kích thích kinh tế bằng cách tăng đầu tư công vào các cơ sở hạ tầng, từ đó tạo ra thêm nhiều việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp. Bên cạnh đó, chính phủ giảm các loại thuế, phí, từ đó giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn (vì giá rẻ hơn do chịu thuế ít hơn), nôm na tức là kích cầu tiêu dùng. Khi tổng cầu đi lên, đồng nghĩa nền kinh tế cũng sẽ đi lên.

Tác động của chính sách tài khóa nới lỏng với nền kinh tế. Đường AD’ là tổng cầu sau chính sách tài khóa của chính phủ

Như ở trong hình trên, ta có thể thấy trước khi có chính sách tài khóa của chính phủ, tổng cầu là AD. Nhưng sau khi có chính sách kích cầu, tổng cầu là AD’, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mới là GDP’, cao hơn điểm GDP ban đầu, tức là GDP đã tăng.

Việc tăng đầu tư công và giảm thuế đồng nghĩa với việc chính phủ sẽ chịu tình trạng thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên, Keynes cho rằng thâm hụt ngân sách (ở mức vừa phải) không phải là điều xấu, trái lại nó giúp kinh tế ổn định. Khi thế giới trải qua giai đoạn đại suy thoái 1929 – 1933, Keynes lập luận rằng chính phủ cần phải tăng chi tiêu và sẵn sàng chấp nhận thâm hụt ngân sách giúp giải quyết tình trạng thất nghiệp.

Thực tế cho thấy khi chính sách tài khóa này đã được rất nhiều nước áp dụng trong thời điểm dịch COVID-19 bùng phát. Mỹ, Anh, EU đều đưa ra các gói kích thích kinh tế trị giá hàng nghìn tỷ USD, thậm chí phát tiền cho dân để dân có tiền tiêu xài. Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành các gói hỗ trợ nền kinh tế như gói 62.000 tỷ đồng, gói 26.000 tỷ để giúp người bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh có tiền để vượt qua những khó khăn mà dịch gây ra.

Ngược lại, khi nền kinh tế lạm phát hoặc quá nóng, chính phủ lại làm ngược lại, đó là thắt chặt đầu tư công, tăng thuế, giảm chi để tránh nền kinh tế rơi vào tình trạng đổ vỡ. Thông thường với việc thắt chặt đầu tư công, chính phủ có thể giảm chi cho công chức thông qua tinh giản biên chế, hạn chế hoặc chậm phê duyệt các dự án công chưa cần thiết, tăng một số loại thuế  như thuế tiêu thụ đặc biệt, ban hành thuế mới như thuế bảo vệ môi trường. Nhìn chung những chính sách này đều nhằm làm hạ nhiệt nền kinh tế, tránh cho việc phát triển vượt quá tầm kiểm soát của chính phủ.

Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ đề cập đến việc chính phủ, hay nói đúng hơn là ngân hàng trung ương, kiểm soát cung tiền để ổn định kinh tế vĩ mô. Mục tiêu của chính sách là là hướng tới một lãi suất mong muốn (targeting interest rate) để đạt được những mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế.

Có hai loại chính sách tiền tệ, đó là chính sách tiền tệ nới lỏng thắt chặt. Chính sách tiền tệ nới lỏng là việc ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ để làm tăng mức cung tiền trong nền kinh tế (không phải là in thêm tiền) hơn mức bình thường, thường là hạ lãi suất cho vay. Khi ngân hàng trung ương giảm lãi suất cho vay đối với các ngân hàng, thì như một phản ứng dây chuyển, ngân hàng thương mại sẽ giảm lãi suất cho vay với doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn, mở rộng sản xuất, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Chính sách tiền tệ nới lỏng thường được thực hiện cùng lúc với chính sách tài khóa nới lỏng khi nền kinh tế suy thoái hay đình trệ.

Trong khi đó, chính sách tiền tệ thắt chặt là làm giảm cung tiền, khiến tiếp cận vốn khó hơn, nhằm giảm lạm phát. Chính sách này được áp dụng đồng thời với việc chính phủ giảm chi tiêu công, thắt chặt chi tiêu để hạ nhiệt nền kinh tế, đối phó với lạm phát.

AD/AS, Unemployment, Fiscal/Monetary Policy | AP Babbitt Notes
Khi chính sách tiền tệ nới lỏng, lãi suất giảm từ IR còn IR1, dẫn đến cung tiền tăng từ SM sang SM1

Về cơ bản, ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ sau trong chính sách tiền tệ:

  • Tái cấp vốn: Là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng trung ương trong ngắn hạn cho các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng.
  • Lãi suất: Ngân hàng trung ương có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay, để chống cho vay nặng lãi.
  • Nghiệp vụ thị trường mở: Ngân hàng trung ương mua hoặc bán các giấy tờ có giá như trái phiếu. Ở Mỹ, gần đây nhất, khi FED bắt đầu thông báo giảm quy mô mua trái phiếu, người ta nói cơ quan này bắt đầu thực hiện quá trình taper.
  • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các ngân hàng thương mại.
  • Hạn mức tín dụng: Là mức dư nợ tối đa mà ngân hàng trung ương yêu cầu ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp vốn cho doanh nghiệp.
  • Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu và tình hình kinh doanh trong nước. Về bản chất thì tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi thì tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.

Như vậy, chúng ta đã đi hết những chính sách mà chính phủ có thể làm để điều hành nền kinh tế. Về cơ bản, tất cả những chính sách này nhằm giúp nền kinh tế vừa ổn định trong ngắn hạn, nhưng vẫn duy trì đà tăng trong dài hạn.

Thành Vương Tiến
About Author

Thành Vương Tiến

error: Nội dung bản quyền của Simply Invest